Quay về thập niên 1990, thị trường chứng khoán Mỹ trở thành sôi sục bởi những công ty Internet. Được coi như một kỷ nguyên mới cho nền kinh tế, các Dotcom (doanh nghiệp có tên miền “.” Com) từ 1996 – 1999 xuất hiện ào ạt hàng ngày. Quơ những gì có liên hệ đến Internet đều được các nhà đầu tư săn lùng. Họ đổ xô mua cổ phiếu các dotcom mà không quan hoài đến giá trị thực, bỏ qua những thua lỗ ngày nay để trông chờ vài năm sau thu lợi gấp hàng trăm lần, mặc dù thực tiễn không phải công ty công nghệ nào cũng thành công trong kinh doanh. Cho tới thời khắc nhợt năm 2000. Khi bong bóng của các công ty Dotcom nổ và cổ phiếu của những công ty nhóm ngành công nghệ trong chỉ số Nasdaq giảm kỉ lục 78% vào tháng 10 năm 2002. Khi đó vết đen trong kinh tế Mỹ đã rất thảm hại, nhưng nếu nhìn thấu đáo đó cũng chỉ xuất phát từ những tính toán sai lầm của các doanh nghiệp. Tiếp đến, khi FED và các nhà hoạch định chính sách Mỹ vẫn còn làm được những gì có thể để cứu thị trường. Và ánh sáng đã trở lại vào thời điểm 2001-2007, nền kinh tế Mỹ đã phục hồi. Thế nhưng những rủi ro mới đã manh nha xuất hiện. Giá bất động sản tăng mạnh, dân tình đua nhau đi vay tiền chính phủ với lãi suất ưu đãi dưới 5% để mua nhà đem đầu tư. Nhiều nơi còn mời chào mua nhà trả góp mà không cần phải bỏ ra bất cứ một đồng xu nào (0% down payment). Trong môi trường tín dụng dễ dãi, những tổ chức tài chính đã có xu hướng cho vay mạo hiểm, kể cả cho những người nhập cư phi pháp vay. Hệ quả là vay và đi vay ồ ạt nhằm mục đích đầu cơ dẫn tới hình thành bong bóng nhà ở. Năm 2005, đã có tới 28% số nhà được mua là để nhằm mục đích đầu cơ và 12% mua chỉ để không. Những khoản tín dụng nhà ở thứ cấp (loại tín dụng dành cho người vay có thu nhập thấp hoặc có độ rủi ro thanh toán cao) được tung ra tràn lan. Giới làm chính sách có lẽ bắt đầu sai từ đây, thay vì nhận ra nguy cơ rủi ro này họ cần chỉnh đốn ngay. Thì lại là những chính sách theo đuôi, ứng phó và núm nhằm duy trì sự thịnh vượng mỏng mảnh đó. Cuộc khủng hoảng tài chính Hoa Kỳ mang tên Subprime (2007-2009) đã bắt đầu hình thành sau bong bóng Dotcom. Quay lại với đời sống tại Detroit khi đó, dân tình dễ kiếm được nhiều tiền từ bất động sản, chứng khoán lại đổ tiền ra mua ô tô, lên đời xế hộp, bỏ xe cũ đi mua xe xịn hơn. Trong khi đó Detroit vốn sống dựa đẵn vào nền công nghiệp ô tô. Công ăn việc làm ổn định, đâu đâu cũng thấy mộ nhân viên mà không đủ, viên chức các xưởng phải làm thêm giờ (overtime), đồng nghĩa với tiền nhiều, lại dẫn đến giá nhà tăng. Lương cao, kinh tế tốt, dẫn đến thu nhập từ thuế của chính phủ cũng cao, đầu tư trái lại vào cơ sở hạ tầng và phúc lợi xã hội ồ ạt, dẫn đến tỉnh thành sạch đẹp, người từ khắp nơi kéo về Detroit để “tận thu” một cuộc sống trong mơ. Đến năm 2007, khi mà vụ khủng hoảng tài chính Subprime đã đi đến ngày kết, vỡ bong bóng bất động sản, cộng với sự sụp đổ của nền công nghiệp ô tô Mỹ với hãng xe hơi đứng đầu thế giới General Motor, Ford, Chrysler suy sụp… đã đánh sập hoàn toàn mọi giấc mơ hồi sinh của Detroit. Thế nhưng đáng nhẽ ngay từ thời khắc này, từ nuốm cứu vãn dứt khoát riêng trong ngành ô tô đã thành công. Chính quyền đã nên thẳng tay cho xóa sổ và xây dựng lại chính sách tầng lớp từ đầu. Thì có thể Detroit đã không rơi vào cảnh tệ bạc của hôm nay. Ngành ô tô Detroit khi đó thực sự đã “nát bươm” vì những ảnh hưởng thụ động của vỡ bong bóng BDS và khu vực tài chính nói chung, cũng như quờ nền kinh tế. Những mẫu xe tải và SUV đắt tiền, tiêu thụ nhiều nhiên liệu đã thành gánh nặng chẳng thể cứu. Tình hình khủng hoảng của ngành chế tác ô tô Hoa Kỳ lên cực điểm với những khoản lỗ khổng lồ của Big Three. Tháng 2 năm 2008, GM thông tin rằng năm 2007 hãng bị lỗ 38,7 tỷ USD. Ford có mức lỗ là 2,723 tỷ USD. Tám tháng đầu năm 2008, Chrysler bị lỗ tới 400 triệu USD. GM bị lỗ trước thuế 4,2 tỷ USD chỉ riêng trong quý III năm 2008, trong khi Ford lỗ 2,75 tỷ USD. Cả ba hãng chế tác xe lớn nhất Hoa Kỳ đều buộc thu hẹp sản xuất, tái cơ cấu và xin chính phủ cho vay cứu trợ. GM đã tuyên bố đóng cửa 24 nhà máy, cho nghỉ việc vài vạn cần lao. Đồng thời, hãng tuyên bố sẽ bán vài mác xe (Hummer, Pontiac, Saab), cắt lăng xê. Trong khi đó, Ford đóng cửa một số cơ sở sinh sản của mình tại Bắc Mỹ, châu Âu và Philippines. Bán các đi Jaguar, Land Rover, Ranger, Volvo. Còn Chrysler tuyên bố tạm ngừng sinh sản tại thảy các nhà máy sau đó đi tìm người mua mình. Đặc biệt, Big Three bắt đầu tuyên bố phải nghĩ đến loại xe nhỏ và ít tiêu hao nhiên liệu, bao gồm cả xe chạy bằng điện. Một điều mà vốn họ vẫn sĩ diện chê bai bấy lâu? Quan điểm của chính quyền Mỹ ban đầu là không có ý định cứu ngành ô tô và chủ trương để cho phá sản. Tuy nhiên sau đó ông Bush đổi ý, thông qua kế hoạch cho 3 hãng ô tô lớn nhất của Hoa Kỳ vay 17,4 tỷ USD và trong gói tài chính 700 tỷ để cứu nền kinh tế chung. Tổng thống mới Barack Obama cũng tuyên bố cứu và sự thực là đã ký thêm cho các hãng xe 50 tỷ USD, nhưng ông đề nghị phải cải tổ mạnh mẽ. Tuy nhiên sự thực là vài chục tỷ USD cũng đã không cứu nổi họ. Đến ngày 30 tháng 3 năm 2009, ông Obama đã phải cho rằng phá sản hoặc tái cơ cấu là sự chọn lựa tốt nhất đối với General Motors. Lúc này đã nảy ra tranh cãi nảy lửa về chuyện cứu hay không cứu ngành công nghiệp ô tô Hoa Kỳ ảnh hưởng đến nền kinh tế trong mai sau. Các nhà kinh tế dưới góc độ tham vấn chuyên môn đã chạy một mô hình kinh tế lượng để ước tính uổng của trường hợp vỡ nợ. Đích của họ là giúp các nhà hoạch định chính sách hiểu được tác động của phá sản trong ngành công nghiệp ô tô. Họ cho rằng xóa sổ Big Three sẽ làm mất 24 vạn việc làm nghành, (lương bình quân Big Three là 67.400 - 81.940 USD năm 2007), mất 98 vạn việc làm tại các công ty cung ứng linh kiện và đại lý bán hàng, 1,7 triệu việc làm liên can. Tổng cộng là 3 triệu việc làm bị mất. Kết quả cho rằng vỡ nợ Big Three sẽ làm thu nhập cá nhân ở Hoa Kỳ giảm 151 tỷ USD năm thứ nhất, 398 tỷ USD trong 3 năm. Chính phủ liên bang, tiểu bang và địa phương sẽ bị mất một khoản thu ngân sách lớn, và còn phải tăng chi cho chương trình an sinh tầng lớp thêm 156 tỷ USD trong vòng 3 năm. Còn các nhà kinh tế thiên về quản lý chính sách thì cho rằng phá sản về dài hạn sẽ không có mất việc làm hay tổn hại tới nền kinh tế. Michael Schuman của Time Magazine cho rằng dù một công ty đồ sộ vỡ nợ là điều không hay, nhưng thà thế còn hơn để nó sống mà không có triển vọng phát triển. Ông này so sánh khả năng sụp đổ của ngành ô tô Mỹ với vụ vỡ nợ của Daewoo ở Hàn Quốc năm 1999. Chừng độ tác động của Daewoo tới kinh tế Hàn Quốc lớn hơn của Big Three tới kinh tế Hoa Kỳ. Niềm tin chắc chắn rằng chính phủ sẽ không để Daewoo và các tập đoàn Hàn Quốc sụp đổ đã khiến nhiều ngân hàng và nhà đầu tư tiếp vứt tiền đi cứu, bất chấp thực tiễn là các công ty này chỉ có những kế hoạch kinh doanh kém, dự án không có lợi nhuận và chỉ cố bòn rút tiền cứu trợ để quét dọn tài sản cá nhân chủ nghĩa. Cho tới khi nhận thức “Too Big To Fail - chính phủ không bao giờ để công ty lớn bị phá sản” đã sụp đổ. Thì các ngân hàng và nhà đầu tư đã quyết liệt chuyển vốn sang khu vực kinh dinh đang đói vốn đích thực, cho nên mà thực tại là GDP của Hàn Quốc đã tăng mạnh sau khi Daewoo vỡ nợ. Cũng tương tự ở Nhật Bản trong Thập kỷ mất mát, khi các ngân hàng cố bơm tiền vào các công ty "sống dở chết dở" không có lợi nhuận, cho đến khi chẳng thể cứu. Và Nhật chỉ bắt đầu bình phục khi kiểu đầu tư trên chấm dứt. Nhà kinh tế Hoa Kỳ Paul Krugman, người đoạt giải Nobel năm 2008 cũng cho rằng "kế hoạch của các nhà lập chính sách Hoa Kỳ cứu Big Three chỉ là một giải pháp ngắn hạn vì "không dám thấy một ngành công nghiệp lớn bị vỡ nợ giữa lúc khủng hoảng kinh tế"..." Đồng thời hầu hết các hãng truyền thông lớn trong các cuộc phỏng vấn cũng chung ý kiến rằng nên để ngành công nghiệp ô tô phá sản hơn là đi cứu họ. Và kết quả đã đúng như vậy, mặc dầu nhận được các khoản cho vay của chính phủ, GM vẫn “nát bét” và đã phải nộp đơn xin phá sản có bảo hộ. Ford và Chrysler cũng vậy buộc phải “thanh trừng” và tái cơ cấu nghiêm trang, quyết liệt, thậm chí bán hết cho những nhà đầu tư nghiêm trang mới. Toàn bộ GM, Ford và Chrysler bây chừ đã mạnh trở lại chóng vánh là điều không cần tranh cãi. Thế nhưng giới quan chức đô thị lại có vẻ như chơi học được gì từ sự cải tổ thẳng cánh của các hãng xe. Theo đà suy giảm của ngành công nghiệp xe hơi, nhiều bộ phận hãng xe đã chuyển nhà máy khỏi Detroit tới các tỉnh thành khác hoặc ngưng hoạt động. Detroit đã sụt giảm dân số hiển nhiên, từ khoảng 2 triệu người (1950) xuống còn chưa đầy 700.000 người bây chừ. Chưa kể nó còn đối mặt với nhiều vấn đề như dịch vụ công tồi tệ, chi tiêu vô vạ, tội phạm gia tăng, chênh lệch mức sống lên cực điểm và đặc biệt là tham nhũng. Chính quyền vẫn cố duy trì nếp làm việc cũ và trông chờ vào “ơn trên”? Cho đến khi không còn đủ sức để chi, ngân sách cạn kiệt và Thống đốc bang Michigan - Rick Snyder - đã phải đồng ý cho Detroit vỡ nợ ngày 18/7. Như vậy thêm một lần nữa việc chính quyền Detroit rơi vào cảnh bất lực và xin vỡ nợ cho thấy cách quản lý theo kiểu đối phó và “ăn bám” vào các khoản cứu trợ là chẳng thể nào giải quyết được vấn đề. Cũng chính Thống đốc bang Michigan đã nói với báo giới: "Rõ ràng rằng tình trạng tài chính khẩn cấp ở Detroit chẳng thể được giải quyết thành công bên ngoài đơn xin bảo vệ vỡ nợ và đây là chọn lựa hợp lý độc nhất vô nhị. Các công dân Detroit cần và xứng đáng có một con đường sạch để tiến ra khỏi vòng xoáy suy giảm. Lối đi khả dĩ duy nhất tới một Detroit ổn định và bền vững là xin bảo vệ phá sản". Tuy nhiên dựa trên những thực tại cho thấy, tương lai của Detroit vẫn còn nhìn thấy ánh sáng. Bởi may mắn là người Mỹ còn có một hệ thống chính quyền “mẹ” biết phân biệt rẽ ròi giữa người làm chính sách với các nhóm lợi ích bẩn. Hay nói cách khác là ích công tư không nhập nhèm, vận động theo các quy phạm pháp luật công bằng. Chứ chưa nói đến chuyện họ không có một mớ các chuyên gia nói leo, kèm nhèm và đần. |
Chủ Nhật, 21 tháng 7, 2013
Đằng sau lá đơn phá sản của Detroit
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét